

Thưa ông, tại Hội nghị COP26, Việt Nam đã cam kết đạt mức phát thải
ròng bằng 0 (Net Zero) vào năm 2050. Ông có thể nói rõ hơn về những nỗ lực và kết
quả của Việt Nam trong việc triển khai thực hiện các cam kết quốc tế để đạt được
mục tiêu này?
Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia bị ảnh hưởng
nặng nề nhất của biến đổi khí hậu. Trong những năm gần đây, các hiện tượng thời
tiết cực đoan xảy ra nhiều hơn, tác động trực tiếp và nghiêm trọng đến kinh tế
– xã hội của đất nước.
Nhận thức được những thách thức nghiêm trọng do biến đổi khí
hậu gây ra đối với sự phát triển bền vững, các quốc gia đã đưa ra cam kết mạnh
mẽ để hướng tới mục tiêu 1,5OC theo Thỏa thuận Paris tại Hội nghị các bên tham
gia Công ước khung của Liên hợp quốc về Biến đổi khí hậu lần thứ 21 (COP21) và
cam kết đạt mức phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050 tại COP26.
Ứng phó với biến đổi khí hậu là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt
quan trọng và là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt trong quá trình
phát triển của đất nước, đòi hỏi có sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị và
toàn xã hội.
Để thực hiện các cam kết tại Hội nghị COP26, Thủ tướng Chính
phủ đã thành lập Ban chỉ đạo quốc gia triển khai thực hiện cam kết của Việt Nam
tại Hội nghị COP26 do Thủ tướng Chính phủ làm Trưởng ban và phê duyệt Đề án triển
khai thực hiện cam kết.
Thủ tướng Chính phủ cũng đã ban hành nhiều chiến lược, kế hoạch
quan trọng, trong đó có Quyết định số 888/QĐ-TTg phê duyệt Đề án về những nhiệm
vụ, giải pháp triển khai kết quả Hội nghị COP26; Quyết định số 896/QĐ-TTg của
Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu giai đoạn
đến năm 2050.
Trên cơ sở đó, Cục Biến đổi khí hậu, Bộ Nông nghiệp và Môi
trường, đã phối hợp với các bộ, ngành quản lý lĩnh vực xây dựng kế hoạch giảm
phát thải khí nhà kính, thích ứng với biến đổi khí hậu phù hợp với cam kết đạt
mức phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050.
Nhiều chương trình, dự án cụ thể đã được triển khai trên thực
tiễn, bao gồm các dự án phát triển năng lượng tái tạo, các dự án hấp thụ carbon
rừng, giảm phát thải khí nhà kính trong nông nghiệp, các dự án phát triển bền vững
thích ứng với biến đổi khí hậu ở Đồng bằng sông Cửu Long… Khối ngân hàng và
doanh nghiệp tích cực vào cuộc đồng hành cùng Chính phủ thực hiện cam kết quốc
tế.
Đáng chú ý, Luật Bảo vệ môi trường 2020 và các nghị định hướng
dẫn thi hành luật như Nghị định số 08/2022/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết
một số điều của Luật Bảo vệ môi trường; đặc biệt Nghị định số 06/2022/NĐ-CP của
Chính phủ quy định giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và bảo vệ tầng ozone đã định
hướng, quy định cụ thể việc triển khai thực hiện đến các doanh nghiệp.
Lần đầu tiên, Luật Bảo vệ môi trường và Nghị định 06 đã quy
định nghĩa vụ, yêu cầu các doanh nghiệp báo cáo phát thải, kiểm kê khí nhà
kính, từ đó thực hiện các biện pháp giảm phát thải. Tôi cho rằng đây là điểm
quan trọng nhất của chính sách năm 2022 về giảm phát thải khí nhà kính nhằm triển
khai thực hiện cam kết Net Zero tại Việt Nam.
Trong những năm qua, Cục Biến đổi khí hậu phối hợp với các bộ,
ngành tổ chức hàng trăm hội thảo tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn các doanh
nghiệp triển khai thực hiện kiểm kê khí nhà kính và các giá trị mà doanh nghiệp
sẽ đạt được khi chuyển đổi xanh, giảm phát thải khí nhà kính…

Để triển khai cắt giảm phát thải khí nhà kính, doanh nghiệp đóng vai
trò đặc biệt quan trọng. Ông đánh giá thế nào về năng lực cũng như sự tham gia
vào cuộc của các doanh nghiệp, góp phần thực hiện mục tiêu giảm phát thải của
quốc gia?
Việc triển khai thực hiện các giải pháp giảm phát thải khí
nhà kính, chuyển đổi xanh đang là xu thế diễn ra mạnh mẽ trên thế giới. Đây
cũng là yêu cầu bắt buộc với các hàng hóa, sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp
Việt Nam muốn tham gia thị trường toàn cầu, nhất là những thị trường chú trọng
tiêu chuẩn xanh như EU.
Mặc dù đây là một thách thức lớn với các doanh nghiệp nhưng
cũng mở ra những cơ hội phát triển mới với các doanh nghiệp, nâng cao năng lực
cạnh tranh trên thị trường.
Những quy định pháp lý của Chính phủ cùng với yêu cầu tiêu chuẩn
xanh của thị trường đã tạo sức ép, đồng thời là động lực để các doanh nghiệp
thay đổi để đáp ứng.
Trên cơ sở đó, chúng tôi đẩy mạnh triển khai các quy định
pháp luật và thực hiện các mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính, đưa ra các định
hướng hỗ trợ các doanh nghiệp chuyển đổi. Trước hết, tập trung vào các ngành
công nghiệp trọng điểm, tiêu thụ nhiều năng lượng như nhiệt điện, sản xuất sắt
thép, xi măng… Đây cũng là những lĩnh vực đang triển khai thí điểm phân bổ hạn
ngạch phát thải khí nhà kính.
Trước xu thế và nhu cầu của thị trường, giá cả năng lượng
ngày càng biến đổi mạnh mẽ, các doanh nghiệp ngày càng nhận thức được việc chuyển
đổi công nghệ sản xuất, tìm kiếm các nguồn năng lượng thay thế năng lượng hóa
thạch như: sinh khối, điện rác…có lợi thế về mặt giá thành và bài toán kinh tế.
Thực tế trong quá trình khảo sát cho thấy, các doanh nghiệp
đều đã và đang triển khai các hoạt động ứng dụng các công nghệ trong phạm vi
cho phép ở thời điểm hiện tại, mang lại hiệu quả tốt. Tuy nhiên, đến một giới hạn
nhất định, các giải pháp công nghệ này sẽ không thể mang lại hiệu quả cao hơn,
đòi hỏi phải thay đổi công nghệ.
Hiện nay, về công nghệ đã có sẵn nhưng vấn đề quan trọng nhất
là huy động nguồn lực tài chính để các doanh nghiệp đầu tư công nghệ mới. Các doanh
nghiệp đã nhận thức rõ bài toán kinh tế, xu thế thị trường đòi hỏi phải chuyển
đổi phát triển xanh. Về cơ chế chính sách, Việt Nam đã ban hành khá đầy đủ hành
lang pháp lý cho vấn đề này. Điều các doanh nghiệp cần nhất hiện nay là động lực
để thay đổi một cách cơ bản.

Vậy theo ông, chúng ta cần thêm những động lực nào để thúc đẩy triển
khai, hiện thực hóa các chủ trương chính sách phát triển xanh, bền vững ở Việt
Nam, đáp ứng yêu cầu của thị trường trong các doanh nghiệp ở các ngành, lĩnh vực
trong thời gian tới? Theo ông, khi chuyển đổi thành công sẽ mang lại những lợi
ích gì cho doanh nghiệp?
Chính phủ cần có cơ chế chính sách hỗ trợ, thúc đẩy khối tài
chính, ngân hàng, tín dụng, tạo thêm động lực cho doanh nghiệp thay đổi. Điều
này sẽ mang lại lợi ích dài hạn cho các doanh nghiệp, thay đổi cơ bản văn hóa của
doanh nghiệp trước xu thế chuyển đổi xanh hiện nay.
Ví dụ, trong sản xuất thép hiện nay có 4 loại công nghệ,
trong đó công nghệ lò cao BOF tiêu tốn nhiên liệu hóa thạch rất lớn. Nếu ứng dụng
công nghệ lò hồ quang điện (EAF) hay lò trung tần (IF) sẽ giảm phát thải khí
nhà kính xuống mức dưới 20% so với BOF, đặc biệt với lò trung tần thì mức giảm
phát thải còn lớn hơn nữa. Hiện nay, các doanh nghiệp sản xuất thép đang chuyển
dần sang ứng dụng các công nghệ mới, giảm phát thải khí nhà kính.
Đối với ngành sản xuất xi măng, các doanh nghiệp đã từng bước
ứng dụng công nghệ đốt rác, đốt sinh khối để giảm tiêu thụ nhiên liệu hóa thạch,
giảm phát thải.
Việc triển khai ứng dụng các công nghệ mới, giảm phát thải,
chuyển đổi năng lượng sạch trong các cơ sở sản xuất công nghiệp còn mở ra các
cơ hội tham gia thị trường carbon. Thông qua hệ thống đo đạc, báo cáo, thẩm định
(MRV) chuẩn quốc tế sẽ ghi nhận các nỗ lực của doanh nghiệp trong giảm phát thải,
phát triển thị trường carbon.
Tôi cho rằng bản chất của thị trường carbon là triển khai
các công cụ dựa vào thị trường, tạo động lực cho các doanh nghiệp đẩy mạnh các
giải pháp giảm phát thải, được công nhận, được dán nhãn xanh, từ đó có thể tham
gia trao đổi tín chỉ. Đây cũng là xu thế đang được triển khai mạnh mẽ trên thế
giới hiện nay.
Việc thực hiện chuyển đổi xanh, kinh tế phát thải carbon thấp
không chỉ là đảm bảo thực thi các quy định pháp luật mà còn là yêu cầu đòi hỏi
của thị trường toàn cầu. Trong quá trình này, bài toán phát triển kinh tế được
đặt song hành với bài toán môi trường, tạo xu thế phát triển bền vững cho cả mục
tiêu quốc gia và mục tiêu phát triển doanh nghiệp.
Chúng tôi sẽ luôn đồng hành, hỗ trợ, đáp ứng nhu cầu của các
doanh nghiệp để vừa đảm bảo bài toán kinh tế, phát triển kinh doanh, mang lại lợi
nhuận, vừa bảo vệ môi trường, phát triển bền vững.

Từ thực tế hoạt động triển khai thực hiện kiểm kê khí nhà kính, ông có
nhận xét thế nào về mặt bằng nhận thức về vấn đề phát triển xanh, phát thải thấp
trong các cơ sở, doanh nghiệp trong các ngành, lĩnh vực hiện nay?
Thực tế nhận thức về vấn đề này đã có sự tiến bộ rất rõ, đặc
biệt ở các doanh nghiệp trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh sử dụng nhiều nhiên
liệu hóa thạch, phát thải khí nhà kính lớn. Tuy nhiên, mức độ còn chưa có sự đồng
đều giữa các cơ sở doanh nghiệp.
Việc kiểm kê khí nhà kính rất đặc thù với 3 cấp độ khác
nhau. Ở phạm vi 1, chỉ xác định nguồn phát thải trực tiếp từ sử dụng nhiên liên
liệu hóa thạch. Ở phạm vi 2 sẽ tính toán đến mức độ nguồn phát thải gián tiếp
(như sử dụng hơi, điện). Ở phạm vi 3 là mức độ cao nhất sẽ xem xét mức độ phát
thải khí nhà kính của cả vòng đời sản phẩm.
Hiện nay, phần lớn chúng ta mới đang triển khai ở phạm vi 2.
Bởi để kiểm kê phát thải khí nhà kính trong cả vòng đời sản phẩm đòi hỏi cần sự
đồng bộ trong tất cả các lĩnh vực. Hiện nay, ước tính khoảng hơn một nửa số
doanh nghiệp có hoạt động sản xuất kinh doanh liên quan đến sử dụng nhiên liệu
hóa thạch hoặc các nguồn năng lượng khác đã có sự quan tâm đáng kể tới kiểm kê
khí nhà kính và các biện pháp chuyển đổi xanh, số còn lại là các doanh nghiệp
phụ trợ, doanh nghiệp nhỏ và vừa chưa có điều kiện về tài chính, nguồn lực để
triển khai các hoạt động này.
Tôi cho rằng đây là một sự tiến triển rất lớn, tạo khác biệt
rõ rệt về mặt nhận thức trong các doanh nghiệp so với 5 năm trước đây. Đặc biệt,
doanh nghiệp Việt Nam được đánh giá có sự nhạy bén, nhanh nhạy hơn so với mặt bằng
chung của các nước trong khu vực.
Một trong những yếu tố quan trọng quyết định như phân tích ở
trên, đó là các doanh nghiệp đã nhận thấy rõ xu thế thế giới, áp lực, nhu cầu của
thị trường, cũng như lợi ích của việc triển khai các giải pháp giảm phát thải,
phát triển xanh gắn với bài toán kinh tế, lợi nhuận trong sản xuất kinh doanh.
Song song với đó, Việt Nam đã đẩy mạnh các chính sách và hoạt động triển khai
thực hiện cam kết giảm phát thải, ban hành các quy định và có các hướng dẫn cụ
thể, tạo động lực để doanh nghiệp triển khai thuận lợi.

Việt Nam đã đặt mục tiêu tăng trưởng hai con số trong giai đoạn tới.
Theo ông, điều này đặt ra những yêu cầu mới gì trong phát triển, đảm bảo hài
hòa mục tiêu tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường, thực hiện mục tiêu giảm
phát thải?
Theo tôi, việc chúng ta đặt mục tiêu tăng trưởng cao hơn
trong thời gian tới sẽ đòi hỏi nhu cầu về tài nguyên, năng lượng nhiều hơn. Đây
là quy luật tất yếu.
Trong bối cảnh này, một trong những yếu tố quan trọng chính
là thay đổi văn hóa doanh nghiệp trong ứng xử với các nguồn tài nguyên và năng
lượng sử dụng như thế nào. Trong những năm qua, Việt Nam đã có những bước chuyển
biến rất rõ rệt trong thay đổi nhận thức của doanh nghiệp về vấn đề này.
Bên cạnh đó, cần tạo ra các công cụ và áp dụng công nghệ để
hỗ trợ các doanh nghiệp biến văn hóa đó thành hành động cụ thể. Điều này sẽ góp
phần đảm bảo mục tiêu phát triển, tăng trưởng kinh tế song hành với các mục
tiêu khí hậu, bảo vệ môi trường, giảm phát thải khí nhà kính.
Ví dụ như trong lĩnh vực giao thông, nếu chuyển đổi dần
phương tiện sang điện khí hóa, ngành giao thông vẫn phát triển, đồng thời giảm
mạnh lượng phát thải khí nhà kính gây ô nhiễm môi trường không khí. Khi phát
triển điện khí hóa giao thông sẽ dẫn đến nhu cầu nguồn điện, đòi hỏi cơ cấu
năng lượng cũng phải chuyển dần sang năng lượng tái tạo nhiều hơn để đáp ứng
nhu cầu.
Tôi cho rằng nếu những ngành công nghiệp cốt lõi của nền
kinh tế thay đổi theo hướng này thì các ngành công nghiệp, thương mại và dịch vụ
khác cũng sẽ phải chuyển mình thay đổi trong tổng thể một hệ sinh thái chuỗi
cung ứng.
Để làm được điều này đòi hỏi cần thời gian, nguồn nhân lực,
nhu cầu tài chính và công nghệ, kỹ thuật một cách đồng bộ. Việt Nam đang có những
bước khởi đầu rất tốt nên tôi nghĩ, với các nỗ lực mạnh mẽ hơn trong thời gian
tới,chúng ta sẽ đạt được đồng thời các mục tiêu tăng trưởng kinh tế và phát triển
bền vững như đã đặt ra.

